.........Thế nhưng, trong bối cảnh hiện nay, vẫn tồn tại những quan điểm chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam, cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, thậm chí bóp méo bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong đó, luận điệu quy kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam là “chiến tranh huynh đệ tương tàn” trong một thời gian dài nhằm phủ nhận sự thật lịch sử, thời gian gần đây tiếp tục được một số phần tử chống đối lặp lại với nhiều biến tướng khác nhau. Thoạt nhìn, cách diễn đạt này có vẻ trung tính, nhưng thực chất lại là một thủ pháp xuyên tạc tinh vi nhằm đánh tráo bản chất lịch sử, phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, qua đó làm suy giảm niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
.........Cần khẳng định rằng, đây không đơn thuần là một cách diễn giải sai lệch, mà là một sự đánh tráo bản chất lịch sử có chủ ý. Bởi lẽ, cách gọi này cố tình tách rời hiện tượng khỏi bản chất, chỉ nhìn vào bề nổi của xung đột mà cố ý bỏ qua yếu tố quyết định chi phối toàn bộ cuộc chiến tranh là sự can thiệp, áp đặt và xâm lược từ bên ngoài. Nếu thực sự là một cuộc “nội chiến”, thì không thể lý giải được vì sao Hoa Kỳ - một quốc gia cách Việt Nam nửa vòng trái đất - lại huy động một lực lượng quân sự khổng lồ chưa từng có, tiến hành chiến tranh quy mô lớn và kéo dài suốt 21 năm trên lãnh thổ Việt Nam. Bản thân câu hỏi đó đã đủ để bóc trần tính phi logic của luận điệu xuyên tạc.
.........Thực tế lịch sử là khách quan và không thể bị bóp méo: Hoa Kỳ đã trực tiếp tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược với quy mô toàn diện tại Việt Nam. Ở thời điểm cao nhất, Hoa Kỳ đã huy động hơn 60 vạn quân viễn chinh gồm quân Mỹ và quân của năm nước chư hầu của Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường, đồng thời giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức, trang bị và chi phối hơn 1 triệu quân đội tay sai (Quân Ngụy) (1). Không chỉ dừng lại ở đó, trong suốt quá trình chiến tranh, Hoa Kỳ đã luân chuyển khoảng 6 triệu lượt binh sĩ Mỹ tham chiến và sử dụng một khối lượng hỏa lực chưa từng có, với khoảng 7 triệu 850 nghìn tấn bom được ném xuống lãnh thổ Việt Nam (2). Những con số này phản ánh mức độ can dự sâu rộng cả về nhân lực lẫn phương tiện chiến tranh và mức độ tàn khốc của nó, vượt xa khuôn khổ của một cuộc xung đột nội bộ thông thường.
.........Về phương diện khoa học, các dữ kiện trên có ý nghĩa như những “chứng cứ vật chất” để xác định bản chất của cuộc chiến. Một cuộc chiến tranh nếu chỉ mang tính “nội chiến” thì không thể có sự tham gia trực tiếp, quy mô lớn và kéo dài của một cường quốc bên ngoài với mức huy động lực lượng và phương tiện chiến tranh khổng lồ như vậy. Chính sự hiện diện và chi phối mang tính quyết định của yếu tố ngoại bang đã làm thay đổi căn bản tính chất của cuộc chiến, khẳng định rõ đây là một cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài. Do đó, việc quy kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Nhân dân Việt Nam là “nội chiến huynh đệ tương tàn” không chỉ là phiến diện, mà còn là sự phủ nhận trắng trợn có chủ ý những sự thật lịch sử của kẻ có mưu đồ chống đối, phi lý về cả tính khoa học lẫn thực tiễn lịch sử đã được kiểm chứng.
.........Không dừng lại ở đó, tính chất phi nghĩa và tàn khốc của cuộc chiến còn thể hiện ở việc sử dụng các phương tiện chiến tranh hủy diệt quy mô lớn. Trong khuôn khổ Chiến dịch Ranch Hand, Hoa Kỳ đã tiến hành một trong những chiến dịch chiến tranh hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học đã bị rải xuống gần 26.000 thôn, làng của Việt Nam trong suốt một thập kỷ (1961–1971) (3). Đây không chỉ là hành vi quân sự, mà còn là một tội ác đối với con người và môi trường sống. Hậu quả của hành động đó không chỉ là những con số khô khan, vô cảm mà còn là những bi kịch kéo dài qua nhiều thế hệ: Khoảng 4,8 triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm dioxin, trong đó có khoảng 3 triệu nạn nhân chất độc da cam (4). Đằng sau những con số ấy là những cuộc đời bị hủy hoại: những đứa trẻ sinh ra không lành lặn, những con người sống cả đời trong đau đớn “Phần lớn những gia đình nạn nhân chất độc da cam đã và đang sống trong khổ đau, bệnh tật, đói nghèo và vô vọng” (5).
.........Đáng nói hơn, nỗi đau ấy không khép lại cùng chiến tranh. Nó tiếp tục di truyền sang thế hệ thứ hai, thứ ba, tạo thành một chuỗi bi kịch kéo dài hiếm thấy trong lịch sử nhân loại. Những dị dạng bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, ung thư, rối loạn sinh sản… không chỉ là vấn đề y học, mà là những minh chứng sống động cho hậu quả lâu dài của một cuộc chiến tranh phi nhân tính. Có những gia đình mà ba thế hệ đều mang trên mình di chứng của chất độc da cam, đó không còn là ký ức, mà là thực tại đau đớn mỗi ngày. Không chỉ con người, môi trường sinh thái Việt Nam cũng phải gánh chịu những tổn thất nặng nề. Hàng triệu hecta rừng bị hủy diệt, hệ sinh thái bị phá vỡ, đất đai bị ô nhiễm kéo dài. Nhiều khu vực đến nay vẫn chưa thể phục hồi hoàn toàn. Đây là những thiệt hại không thể đo đếm đơn thuần bằng kinh tế, mà là tổn thất về nền tảng sống của cả một quốc gia.
.........Những sự thật đó không chỉ được ghi nhận trong các tài liệu chính thống của Việt Nam mà còn được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Ngay từ năm 1970, Tòa án Bertrand Russell đã đưa ra những bằng chứng rõ ràng về tính chất tàn khốc và phi nghĩa của cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Điều này cho thấy, nỗi đau mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu không chỉ là vấn đề riêng của một dân tộc, mà còn là vấn đề của lương tri và công lý quốc tế. Từ góc độ lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều khẳng định rõ: một cuộc chiến tranh chỉ được coi là chính nghĩa khi nhằm bảo vệ độc lập dân tộc, chống lại xâm lược và giải phóng con người. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam hoàn toàn đáp ứng những tiêu chí đó, do đó mọi sự phủ nhận đều là sự lệch lạc cả về nhận thức lịch sử lẫn lập trường chính trị.
.........Đặt trong bối cảnh đó, luận điệu “huynh đệ tương tàn” là bộc lộ rõ sự phiến diện đến mức khó có thể chấp nhận nếu xét trên tư duy logic thông thường. Nếu coi đó là “nội chiến”, thì phải chăng sự hiện diện của 60 vạn quân viễn chinh nước ngoài, 6 triệu lượt quân Mỹ đến tham chiến và 7 triệu 850 nghìn tấn bom ném xuống ở Việt Nam chỉ là thứ yếu? Hay việc rải 80 triệu lít chất độc hóa học xuống lãnh thổ Việt Nam cũng có thể được xem là “mâu thuẫn nội bộ”? Những cách đặt vấn đề như vậy chẳng khác nào chỉ nhìn thấy hậu quả mà phủ nhận nguyên nhân, chỉ thấy nạn nhân mà né tránh thủ phạm. Nói một cách hình tượng, đó là kiểu lập luận “lấy chiếc lá che khuất cả cánh rừng”, không phải vì không nhận ra sự thật, mà vì cố tình không muốn thừa nhận sự thật.
.........Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rõ ràng rằng, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước không phải là kết quả ngẫu nhiên, mà là tất yếu, gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính nhân tố đã quy tụ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, để đưa cuộc đấu tranh chính nghĩa đến thắng lợi cuối cùng. Ngày nay, Việt Nam đang nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, song những di chứng chiến tranh, đặc biệt là hậu quả của chất độc da cam, vẫn còn hiện hữu trong đời sống của hàng triệu con người, nhắc nhở rằng lịch sử không thể bị lãng quên, càng không thể bị bóp méo.
.........Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về lịch sử không nhằm khơi dậy hận thù, mà nhằm bảo vệ sự thật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của Nhân dân vào con đường đã lựa chọn, đồng thời để nhận thức sâu sắc hơn giá trị của hòa bình, độc lập và phát triển. Đồng thời, để khẳng định một nguyên tắc: mọi ý kiến, kể cả phản biện, nếu thực sự vì đất nước, phải được đặt trên nền tảng tôn trọng sự thật lịch sử và sự thấu cảm đối với những nỗi đau mà dân tộc Việt Nam đã phải trải qua. Bởi lẽ, mọi sự xuyên tạc, dù tinh vi đến đâu, cuối cùng cũng không thể thay thế được sự thật.
.........Tài liệu trích dẫn:
.........(1), (2) Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 37, năm 1976, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004. tr483.
.........(3), (4), (5) TS. Nguyễn Duy Hùng (Chủ tịch): Nỗi đau da cam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội 2012. Tr5, 6.