Cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chỉ là kết quả của “khoảng trống quyền lực” hay một sự “ăn may” là cách giải thích đơn giản nhưng khó đứng vững khi đối chiếu với tiến trình chuẩn bị lực lượng từ năm 1930, sự chuyển hướng chiến lược những năm 1939-1941 và chuỗi quyết định mau lẹ trong tháng 8/1945. Thời cơ quốc tế là khách quan, nhưng nhận ra thời cơ, chuẩn bị đủ lực lượng và biến thời cơ thành chính quyền trên phạm vi cả nước lại phụ thuộc vào năng lực của chủ thể lịch sử. Bài học ấy vẫn có ý nghĩa đối với Việt Nam và Lai Châu trong việc nhận diện, chuẩn bị và tận dụng những cơ hội phát triển mới.
Hơn tám thập niên đã trôi qua, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn được nghiên cứu và diễn giải từ nhiều góc độ. Có cách giải thích quy thắng lợi chủ yếu cho việc Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, bộ máy cai trị cũ khủng hoảng và xuất hiện “khoảng trống quyền lực”, từ đó đi đến nhận định rằng thắng lợi của cách mạng phần nhiều là “ăn may”. Cách lý giải này chứa một phần dữ kiện lịch sử nhưng lại mắc hạn chế về phương pháp khi lấy điều kiện thuận lợi khách quan để giải thích gần như toàn bộ kết quả, trong khi bỏ qua quá trình chuẩn bị chủ quan lâu dài và năng lực tổ chức hành động tại thời điểm quyết định.
Nhật đầu hàng Đồng minh rõ ràng tạo ra thời cơ đặc biệt, nhưng Nhật đầu hàng ở nhiều quốc gia châu Á chứ không riêng Việt Nam, trong khi kết quả chính trị sau chiến tranh tại mỗi nước hoàn toàn khác nhau. Nếu thời cơ tự động tạo ra thắng lợi thì lịch sử chỉ cần có “gió thuận” mà không cần con thuyền và người cầm lái. Vấn đề cần giải thích là tại sao lực lượng cách mạng ở Việt Nam có thể nhận biết thời điểm, huy động đông đảo quần chúng và hành động đủ nhanh để chuyển hóa biến động quốc tế thành sự thay đổi căn bản trong nước. Muốn trả lời thỏa đáng phải nhìn lại cả tiến trình chuẩn bị trước tháng 8/1945.
Trong 15 năm từ 1930 đến 1945, cách mạng Việt Nam trải qua các cao trào 1930-1931, 1936-1939 và cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945. Dù mục tiêu trực tiếp và phương thức đấu tranh từng thời kỳ khác nhau, các phong trào ấy đã góp phần xây dựng tổ chức, rèn luyện cán bộ, tích lũy kinh nghiệm vận động quần chúng và mở rộng cơ sở xã hội. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 8 tháng 5/1941 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết, gắn với thành lập Việt Minh, xây dựng căn cứ và phát triển lực lượng. Cuối năm 1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời. Sau cuộc đảo chính Pháp của Nhật ngày 9/3/1945, Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta tiếp tục điều chỉnh phương thức đấu tranh, thúc đẩy cao trào kháng Nhật cứu nước. Bởi vậy, khi thời cơ xuất hiện vào tháng 8/1945, cách mạng đã có một quá trình chuẩn bị về chính trị, tổ chức và lực lượng.
Diễn biến những ngày quyết định càng cho thấy vai trò của năng lực nắm bắt thời cơ. Ngày 13/8/1945, khi nhận được những thông tin cho thấy Nhật Bản sắp đầu hàng Đồng minh, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1. Ngày 15/8, Nhật tuyên bố đầu hàng; ngày 16/8, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa. Chính quyền được giành ở Hà Nội ngày 19/8, Huế ngày 23/8 và Sài Gòn ngày 25/8, sau đó nhanh chóng lan rộng trên phạm vi cả nước. Chuỗi sự kiện dồn dập ấy cho thấy thời cơ được nhận diện và chuyển thành hành động chính trị trong một khoảng thời gian đặc biệt ngắn.
Cũng cần lưu ý rằng tình hình khi đó không phải một “sân khấu trống”. Tại Hà Nội vẫn còn hơn một vạn quân Nhật với vũ khí và tổ chức quân sự. Các lực lượng Đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, trong khi nhiều lực lượng chính trị khác cũng tìm cách mở rộng ảnh hưởng. Khoảng thời gian giữa sự sụp đổ của Nhật và việc quân Đồng minh tiến vào vì thế tạo thành một “cửa sổ thời cơ” rất hẹp. Hành động quá sớm khi điều kiện chưa chín muồi có thể dẫn tới tổn thất lớn, nhưng chậm trễ cũng có thể khiến tương quan chính trị thay đổi. Nghệ thuật lãnh đạo thể hiện chính ở khả năng đánh giá đúng tương quan lực lượng và lựa chọn thời điểm hành động.
Vì vậy, thừa nhận tác động quyết định của bối cảnh quốc tế không hề làm giảm vai trò của yếu tố chủ quan; ngược lại, hai phương diện phải được đặt trong quan hệ biện chứng. Thời cơ là khách quan nhưng khả năng tận dụng thời cơ phụ thuộc vào sự chuẩn bị và năng lực hành động. Nói Cách mạng Tháng Tám thắng lợi nhờ “ăn may” chẳng khác nào thấy gió thuận rồi cho rằng con thuyền tự cập bến. Gió có thể tạo thuận lợi, nhưng muốn tới đích vẫn phải có con thuyền đủ sức đi biển, người cầm lái biết hướng và một quyết định xuất phát đúng lúc.
Từ góc độ sử học, điều cần tránh chính là kiểu giải thích “một nguyên nhân cho tất cả”. Cách mạng Tháng Tám là kết quả hội tụ của biến động quốc tế, khủng hoảng của hệ thống cai trị, quá trình chuẩn bị lực lượng trong nước, khả năng huy động quần chúng và những quyết định chính trị đúng thời điểm. Bỏ qua bất kỳ thành tố quan trọng nào đều dễ khiến bức tranh lịch sử bị giản lược. Đặc biệt, nếu chỉ nhìn vào những ngày tháng 8/1945 mà bỏ qua 15 năm chuẩn bị trước đó thì rất dễ nhầm “thời điểm bùng nổ” với toàn bộ nguyên nhân tạo nên thắng lợi.
Bài học về thời cơ vì vậy vẫn có giá trị tham khảo đối với công cuộc phát triển hiện nay, dù không thể áp dụng bằng những phép so sánh cơ học. Trong môi trường hiện đại, thời cơ có thể xuất hiện dưới hình thức một công nghệ đột phá, tuyến giao thông chiến lược, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng, thị trường mới hay một bước tiến về cải cách thể chế. Điểm tương đồng nằm ở chỗ cơ hội chỉ trở thành thành quả khi chủ thể đã chuẩn bị đủ năng lực tiếp nhận và khai thác.
Với Lai Châu, bài học ấy càng có ý nghĩa thiết thực. Một tỉnh miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn đang đứng trước những cơ hội mới từ nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến, thủy điện, du lịch, kinh tế biên mậu, chuyển đổi số và liên kết vùng. Năm 2025, GRDP của tỉnh tăng 7,52%, GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 79 triệu đồng, thu ngân sách trên địa bàn đạt 3.573 tỷ đồng; quý I/2026, GRDP tăng 9,65%. Nhiệm kỳ 2025-2030, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10% trở lên, đồng thời xác định phát triển kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số, nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp chế biến, kinh tế biên mậu và du lịch là những hướng đột phá quan trọng.
Những mục tiêu đó cho thấy cơ hội phát triển đang mở ra, nhưng cơ hội không đồng nghĩa với kết quả được bảo đảm. Muốn biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng, Lai Châu phải tiếp tục chuẩn bị “thực lực” bằng hạ tầng kết nối đồng bộ, nguồn nhân lực chất lượng hơn, đội ngũ cán bộ đủ năng lực, môi trường đầu tư thông thoáng, dữ liệu số và năng lực quản trị hiện đại; đồng thời khai thác hiệu quả lợi thế biên giới, tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa các dân tộc. Nếu làm tốt, những bất lợi về địa hình và khoảng cách có thể từng bước được thu hẹp; ngược lại, cơ hội dù lớn vẫn có thể trôi qua khi năng lực hấp thụ không theo kịp.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vì thế không cần được nhìn nhận bằng những kết luận giản đơn, dù là tuyệt đối hóa yếu tố chủ quan hay quy tất cả cho hoàn cảnh khách quan. Đặt sự kiện dưới sự kiểm chứng của niên biểu, tư liệu và quan hệ nhân quả sẽ thấy thắng lợi là kết quả của cả thời cơ lịch sử và quá trình chuẩn bị, tổ chức, lựa chọn thời điểm hành động. Từ mùa Thu năm 1945 đến hành trình phát triển của Lai Châu hôm nay, một bài học vẫn còn sức gợi mở sâu sắc: thời cơ tạo ra khả năng, nhưng chỉ thực lực được chuẩn bị từ trước, khả năng nhìn đúng thời điểm và năng lực hành động mới có thể biến khả năng ấy thành thành quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, các tập về giai đoạn 1930-1945, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Hồ Chí Minh (2011), Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, ngày 12/3/1945.
5. Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, Quân lệnh số 1, ngày 13/8/1945.
6. Tỉnh ủy Lai Châu (2025), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XV, nhiệm kỳ 2025-2030.
7. UBND tỉnh Lai Châu (2025-2026), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và những tháng đầu năm 2026.
8. UBND tỉnh Lai Châu, Đề án Chuyển đổi số tỉnh Lai Châu đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Tác giả: LCC