Muốn bác bỏ lý luận của C.Mác về đấu tranh giai cấp, một số người đã sử dụng ba phép “ảo thuật” quen thuộc: Biến một động lực thành động lực duy nhất, xóa bỏ điều kiện lịch sử cụ thể và đồng nhất đấu tranh giai cấp với bạo lực. Song, từ sự phân phối thu nhập giữa lao động và tư bản, tình trạng việc làm phi chính thức đến những tranh luận về quyền lợi của người lao động trên nền tảng số, thực tiễn hiện đại cho thấy mâu thuẫn lợi ích không hề biến mất. Nó chỉ thay đổi hình thức biểu hiện.
Ba sự đánh tráo trong một luận điệu
Thời gian qua, một số quan điểm xuyên tạc cho rằng chủ nghĩa Mác coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất của mọi xã hội, cổ xúy bạo lực và đã hoàn toàn lỗi thời trong thế kỷ XXI. Nghe qua tưởng là “phản biện mới”, nhưng bóc kỹ lớp vỏ ngôn từ sẽ thấy đây vẫn là cách cắt xén cũ, lấy một phần thay cho toàn thể rồi tranh luận với chính hình nộm do mình dựng lên.
Trước hết, cần xác định chính xác rằng câu “đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội” là một cách khái quát lý luận, không thể tách khỏi những điều kiện lịch sử mà C.Mác đã chỉ rõ.
Trong thư gửi Giôdép Vâyđơmaiơ ngày 5/3/1852, C.Mác khẳng định ông không phải người đầu tiên phát hiện sự tồn tại của các giai cấp và cuộc đấu tranh giữa các giai cấp. Đóng góp mới của ông là chứng minh sự tồn tại của giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất, đồng thời chỉ ra xu hướng vận động dẫn tới thủ tiêu sự phân chia giai cấp.
Điều đó có nghĩa, đấu tranh giai cấp không tồn tại trong mọi xã hội và càng không phải chiếc “chìa khóa vạn năng” có thể mở tất cả cánh cửa lịch sử. Xã hội cộng sản nguyên thủy chưa phân chia thành những giai cấp đối kháng nên chưa có đấu tranh giai cấp. Khi những điều kiện kinh tế, xã hội làm nảy sinh giai cấp được khắc phục thì đấu tranh giai cấp cũng mất đi cơ sở tồn tại.
Bởi vậy, quy kết C.Mác coi đấu tranh giai cấp là động lực của mọi thời đại chẳng khác nào bỏ mất dòng chữ “sử dụng theo chỉ dẫn” rồi trách phương thuốc không chữa được mọi loại bệnh.
Sự đánh tráo thứ hai là biến “một động lực” thành “động lực duy nhất”. Chủ nghĩa duy vật lịch sử không bao giờ giải thích sự vận động của xã hội chỉ bằng đấu tranh giai cấp. Sự phát triển của lực lượng sản xuất, biến đổi của quan hệ sản xuất, nhu cầu và lợi ích của con người, tiến bộ khoa học, công nghệ, văn hóa, tư tưởng, điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh quốc tế đều tác động đến tiến trình lịch sử.
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấp là một động lực trực tiếp, quan trọng bởi nó tác động vào những quan hệ xã hội đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nhưng nó không thay thế các động lực khác. Một cỗ máy có nhiều bộ phận cùng vận hành. Chỉ vì một bộ phận giữ vai trò quan trọng mà kết luận cả cỗ máy chỉ có duy nhất bộ phận ấy là lối suy luận không mấy “máy móc”, mà khá… máy móc.
Sự đánh tráo thứ ba là đồng nhất đấu tranh giai cấp với bạo lực. Đây là cách cố tình giản lược một hiện tượng chính trị, kinh tế, xã hội phức tạp thành hình ảnh xung đột cực đoan.
Đấu tranh giai cấp có thể diễn ra dưới nhiều hình thức như đấu tranh kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp lý; thương lượng tập thể; đấu tranh đòi cải thiện tiền lương, điều kiện làm việc; hoàn thiện pháp luật lao động; mở rộng an sinh xã hội; bảo vệ người yếu thế và chống các hành vi bóc lột, bất công. Bạo lực có thể xuất hiện trong những điều kiện lịch sử nhất định, nhưng không phải là nội dung duy nhất, càng không phải mục đích tự thân của đấu tranh giai cấp.
Đổi tên quan hệ lao động không làm mâu thuẫn biến mất
Những người tuyên bố đấu tranh giai cấp đã “hết hạn sử dụng” thường dựa vào sự thay đổi về hình thức của xã hội hiện đại. Họ cho rằng ngày nay người lao động có điện thoại thông minh, làm việc trên ứng dụng, được gọi là “đối tác” hoặc “cộng tác viên” thì quan hệ giai cấp không còn.
Nhưng đổi tên người lao động thành “đối tác” không tự động biến họ thành người đồng sở hữu nền tảng. Khoác chiếc áo công nghệ lên quan hệ lao động cũng không làm mất đi câu hỏi ai sở hữu tư liệu sản xuất, ai quyết định thuật toán, ai phân phối lợi ích và ai gánh chịu rủi ro.
Tháng 10/2024, Hội đồng Liên minh châu Âu đã thông qua quy định mới nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho hơn 28 triệu người làm việc qua các nền tảng số. Quy định yêu cầu minh bạch việc sử dụng thuật toán trong quản trị nhân sự, cho phép người lao động khiếu nại quyết định tự động và xác định đúng tư cách việc làm để họ được hưởng các quyền lao động tương ứng.
Nếu mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu nền tảng và người cung cấp sức lao động đã biến mất, hẳn các cơ quan lập pháp không phải mất nhiều năm để xử lý tình trạng “tự làm chủ giả”, quản trị bằng thuật toán và thiếu hụt bảo vệ xã hội. Công nghệ không thủ tiêu quan hệ lợi ích. Trong nhiều trường hợp, nó chỉ khiến quan hệ ấy trở nên khó nhìn thấy hơn.
Số liệu của Tổ chức Lao động quốc tế còn cho thấy tỷ trọng thu nhập toàn cầu thuộc về người lao động giảm 1,6 điểm phần trăm trong giai đoạn 2004–2024. ILO xác định những nguyên nhân đáng chú ý gồm tự động hóa, toàn cầu hóa, công nghệ thay thế lao động và sự suy giảm sức mạnh thương lượng của người lao động.
Những dữ liệu này không có nghĩa mọi chủ doanh nghiệp đều đối lập với người lao động, càng không phải lời kêu gọi đối đầu cực đoan. Chúng chỉ chứng minh một thực tế khoa học rằng sự khác biệt về vị trí trong quá trình sản xuất và phân phối vẫn tạo ra những lợi ích không hoàn toàn đồng nhất. Vì vậy, xã hội cần pháp luật, đối thoại, tổ chức đại diện và các thiết chế điều hòa lợi ích.
Tại Việt Nam, thị trường lao động sáu tháng đầu năm 2026 tiếp tục ổn định, thu nhập và số người có việc làm đều tăng. Tuy nhiên, lao động có việc làm phi chính thức vẫn chiếm 61,9%. Tỷ lệ này ở nông thôn là 71,1%, trong khi khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo trong quý II/2026.
Nhìn thẳng vào những con số đó không phải “khoét sâu mâu thuẫn”, mà để nhận diện đúng vấn đề, mở rộng bảo hiểm xã hội, nâng cao chất lượng việc làm, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Che chiếc nhiệt kế không làm người bệnh hết sốt. Phủ nhận mâu thuẫn lợi ích cũng không làm mâu thuẫn tự tiêu tan.
Vận dụng sáng tạo, không rơi vào cực đoan
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phê phán cách vận dụng giáo điều, nghe người khác nói đấu tranh giai cấp thì cũng lập tức hô khẩu hiệu đấu tranh giai cấp mà không xem xét hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Trong điều kiện một nước thuộc địa, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đòi hỏi phải tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Đó không phải là phủ nhận quan điểm giai cấp, mà là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa đấu tranh và đoàn kết, giữa mục tiêu lâu dài với nhiệm vụ trước mắt. Đây chính là phương pháp biện chứng, hoàn toàn đối lập với cách học thuộc vài câu rồi áp vào mọi hoàn cảnh như đóng dấu lên giấy trắng.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta tiếp tục phát triển nhận thức về động lực xã hội. Đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội được xác định là nguồn sức mạnh to lớn. Đồng thời, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực chính của mô hình tăng trưởng mới.
Đại hội XIV của Đảng khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, các thành phần kinh tế khác đều có vai trò quan trọng. Văn kiện đồng thời nhấn mạnh gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo lực lượng lao động phi chính thức và hoàn thiện thể chế quản lý phát triển xã hội hiện đại, bao trùm, bền vững.
Trước đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị đã tạo bước phát triển mới trong tư duy về kinh tế tư nhân, đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp và khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55–58% GDP.
Khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân không đồng nghĩa phủ nhận lợi ích của người lao động. Bảo vệ quyền lợi người lao động cũng không có nghĩa gây khó khăn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp phát triển bền vững cần người lao động có kỹ năng, thu nhập ổn định và được tôn trọng. Người lao động muốn nâng cao đời sống cũng cần doanh nghiệp phát triển, đổi mới và tạo thêm việc làm. Vấn đề là xây dựng thể chế để các lợi ích được kết hợp hài hòa, hạn chế sự lạm dụng vị thế và bảo đảm thành quả phát triển được phân phối hợp lý.
Vì vậy, cần đồng thời phê phán hai khuynh hướng. Một là hữu khuynh, phủ nhận giai cấp và đấu tranh giai cấp, coi mọi quan hệ xã hội đều đã hoàn toàn hài hòa. Hai là tả khuynh, tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, xem nhẹ đoàn kết dân tộc, đồng nhất đấu tranh với trấn áp và đối đầu.
Nhận thức khoa học nằm giữa hai cực đoan ấy. Đó là thừa nhận khách quan sự khác biệt và mâu thuẫn lợi ích, nhưng chủ động giải quyết bằng pháp luật, đối thoại, dân chủ, phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; kiên quyết đấu tranh với áp bức, bất công, đồng thời củng cố đại đoàn kết toàn dân tộc.
Lý luận của C.Mác không phải tấm bản đồ bất biến có sẵn mọi con đường, nhưng cung cấp phương pháp giúp con người nhận diện các quan hệ lợi ích ẩn sau những hiện tượng xã hội. Có thể tranh luận, bổ sung và phát triển lý luận ấy bằng dữ liệu và thực tiễn. Nhưng không thể bác bỏ nó bằng cách sửa lời của C.Mác, xóa điều kiện lịch sử rồi long trọng tuyên bố mình vừa “chiến thắng”.
Tài liệu tham khảo
1. C.Mác và Ph.Ăngghen (1996), Toàn tập, tập 28, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 661–662.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 509.
4. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 312.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
6. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
7. Cục Thống kê (2026), Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý II và sáu tháng đầu năm 2026.
8. International Labour Organization và OECD (2025), Policy Measures to Address Inequalities and Increase the Labour Income Share.
9. International Labour Organization (2024), World Employment and Social Outlook: September 2024 Update.
10. Council of the European Union (2024), Platform Workers: Council Adopts New Rules to Improve Their Working Conditions.
Tác giả: NCS ThS Lê Chí Công. TUV Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh