Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới đặt ra yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng, chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang chủ động định hướng, dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin, tạo đồng thuận; đồng thời đổi mới giáo dục lý luận chính trị và phương thức học tập, quán triệt nghị quyết theo hướng trao đổi, thảo luận, đối thoại, giải thích, thuyết phục, gắn với tổ chức thực hiện. Cụ thể hóa yêu cầu đó, Kế hoạch số 132-KH/TU ngày 21/9/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lai Châu xác định trách nhiệm của Trường Chính trị tỉnh trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu lý luận. Bài viết tập trung làm rõ yêu cầu đối với Trường Chính trị và đội ngũ giảng viên trong đổi mới nghiên cứu, giảng dạy, tổng kết thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng công tác tư tưởng trên địa bàn tỉnh.
1. Nghị quyết số 25-NQ/TW và yêu cầu mới đối với công tác tư tưởng ở Lai Châu
Công tác tư tưởng gắn trực tiếp với quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và tạo sự thống nhất trong nhận thức, hành động. Trong bối cảnh môi trường thông tin thay đổi nhanh chóng, công nghệ số và mạng xã hội tác động ngày càng sâu rộng đến đời sống xã hội, yêu cầu đối với công tác tư tưởng không chỉ dừng ở cung cấp thông tin mà còn phải góp phần hình thành nhận thức, củng cố niềm tin và tạo khả năng chuyển hóa nhận thức thành hành động. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới đặt vấn đề đổi mới cả tư duy, nội dung, phương thức và các điều kiện bảo đảm cho công tác tư tưởng. Một nội dung đáng chú ý là chuyển trọng tâm từ “quản lý thông tin” sang chủ động định hướng, dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận. Yêu cầu này có ý nghĩa trực tiếp đối với giáo dục lý luận chính trị, tuyên truyền và học tập, quán triệt nghị quyết, bởi truyền đạt đúng một nội dung chưa đồng nghĩa với việc nội dung đó đã được hiểu đúng, thấm sâu và vận dụng hiệu quả.
Từ góc độ giáo dục lý luận chính trị, điều quan trọng không chỉ là giúp người học nắm được nghị quyết nói gì, mà còn phải lý giải được vì sao nghị quyết được ban hành, vấn đề thực tiễn nào đặt ra phía sau mỗi chủ trương, nội dung đó liên hệ thế nào với chức trách, nhiệm vụ và có thể chuyển hóa thành hành động ra sao. Nghị quyết đồng thời nhấn mạnh đổi mới phương pháp học tập, quán triệt theo hướng tăng cường trao đổi, thảo luận, đối thoại, giải thích, thuyết phục và gắn với tổ chức thực hiện. Đây là yêu cầu trực tiếp đối với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và đội ngũ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị.
Ở Lai Châu, những yêu cầu đó được cụ thể hóa trong Kế hoạch số 132-KH/TU ngày 21/9/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Kế hoạch yêu cầu cụ thể hóa Nghị quyết số 25-NQ/TW phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; chuyển trọng tâm sang chủ động định hướng, dẫn dắt nhận thức xã hội và gắn công tác tư tưởng với thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và chính sách an sinh xã hội. Vì vậy, thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ở địa phương không nên chỉ được hiểu là tổ chức thêm một đợt học tập, tuyên truyền. Điều cần quan tâm là sự chuyển biến trong cách thức tiến hành công tác tư tưởng, trong năng lực giải thích, thuyết phục, gắn lý luận với thực tiễn và đánh giá hiệu quả. Một hội nghị có đông người tham dự phản ánh quy mô tổ chức nhưng chưa đủ phản ánh mức độ tiếp nhận; một bài giảng truyền đạt đúng nội dung mới bảo đảm yêu cầu về thông tin, chưa tự động bảo đảm người học hiểu sâu và biết vận dụng. Khoảng cách từ “được nghe”, “được biết” đến “hiểu”, “tin” và “hành động” vì thế trở thành vấn đề cần được quan tâm.
Trong phân công tổ chức thực hiện, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định Trường Chính trị tỉnh có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thực hiện; tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác tư tưởng trong bối cảnh mới; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị; xây dựng, phát huy đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu lý luận.
Cách xác định đó đặt Trường Chính trị vào vị trí không chỉ tổ chức đào tạo, bồi dưỡng mà còn tham gia nghiên cứu, lý giải và tổng kết những vấn đề thực tiễn của địa phương. Do đó, đưa Nghị quyết số 25-NQ/TW vào cuộc sống ở Trường Chính trị trước hết phải bắt đầu từ việc đưa tinh thần đổi mới của Nghị quyết vào chính hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và tổng kết thực tiễn của nhà trường.
2. Trường Chính trị và đội ngũ giảng viên – từ truyền đạt nghị quyết đến nghiên cứu, đối thoại và kiến tạo nhận thức
Kế hoạch số 132-KH/TU đặt Trường Chính trị trong mối quan hệ trực tiếp với nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và giáo dục lý luận chính trị. Kế hoạch yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục lý luận chính trị theo hướng thực chất, phù hợp với từng đối tượng, gắn lý luận với thực tiễn; đồng thời đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận về công tác tư tưởng và chuyển mạnh từ quán triệt một chiều sang trao đổi, thảo luận, đối thoại, giải thích, gắn với tổ chức thực hiện.
Điều đó trước hết đặt ra yêu cầu đối với chất lượng nghiên cứu của đội ngũ giảng viên. Một nội dung lý luận chỉ thực sự có sức thuyết phục khi người giảng viên không dừng ở việc nắm khái niệm, luận điểm mà còn có khả năng giải thích cơ sở hình thành luận điểm, mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn và những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Nghiên cứu giúp bài giảng tránh lặp lại máy móc nội dung văn bản, đồng thời làm cho người học nhận thấy lý luận có mối quan hệ với những vấn đề đang diễn ra trong đời sống.
Đặc thù của Trường Chính trị là thường xuyên tiếp xúc với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ cơ sở thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng. Mỗi lớp học vì vậy không chỉ là nơi truyền đạt kiến thức mà còn là một nguồn thông tin thực tiễn. Những câu hỏi của học viên, những khó khăn trong thực hiện chính sách và những vấn đề phát sinh ở cơ sở, nếu được tập hợp, phân tích có phương pháp, có thể trở thành dữ liệu quan trọng cho nghiên cứu. Từ đó, giảng dạy có thể khơi mở vấn đề nghiên cứu, còn kết quả nghiên cứu lại làm sâu sắc thêm bài giảng.
Mối quan hệ giữa nghiên cứu và giảng dạy cần được mở rộng thành mối quan hệ giữa nhà trường với thực tiễn. Giảng viên thông qua giảng dạy, nghiên cứu thực tế, sinh hoạt chuyên môn, khảo sát và tổng kết có thể phát hiện những vấn đề mới; từ đó hình thành đề tài nghiên cứu, bài viết khoa học, chuyên đề và luận cứ phục vụ giảng dạy, tuyên truyền, tham mưu. Giá trị của nghiên cứu khoa học vì thế không chỉ nằm ở sản phẩm công bố mà còn ở khả năng quay trở lại phục vụ thực tiễn.
Đối với Lai Châu, nghiên cứu công tác tư tưởng càng cần quan tâm đến điều kiện cụ thể của từng địa bàn và từng nhóm đối tượng. Kế hoạch số 132-KH/TU yêu cầu thông tin đến với người dân phải kịp thời, đầy đủ, hai chiều, phù hợp với đặc điểm địa bàn, đối tượng, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Điều đó gợi mở một hướng nghiên cứu thiết thực: không chỉ nghiên cứu chủ trương ở bình diện chung mà phải quan tâm đến cách chủ trương được tiếp nhận, giải thích và tổ chức thực hiện trong những điều kiện cụ thể của tỉnh. Từ đây, vị trí của người giảng viên cũng cần được nhìn nhận theo hướng rộng hơn. Khi chuẩn bị bài giảng, bên cạnh câu hỏi “Nghị quyết nói gì?”, cần đặt ra những câu hỏi: Vì sao nghị quyết đặt ra vấn đề này? Vấn đề đó biểu hiện như thế nào trong thực tiễn? Người học cần hiểu điều gì? Nội dung đó liên quan thế nào đến chức trách, nhiệm vụ của họ? Cách tiếp cận này giúp chuyển bài giảng từ truyền đạt kết luận sang tổ chức quá trình suy nghĩ, trao đổi và vận dụng.
Đối thoại vì thế không phải phần bổ sung cho bài giảng mà là một phương thức kiểm nghiệm mức độ hiểu của người học. Qua trao đổi, giảng viên có thể nhận diện những điểm chưa rõ, những cách hiểu khác nhau và những vấn đề cần tiếp tục giải thích. Người học cũng có cơ hội liên hệ nội dung nghị quyết với công việc cụ thể. Hiệu quả học tập nghị quyết do đó không nên chỉ được nhìn qua số người tham dự hay việc hoàn thành một bài thi hay kiểm tra, mà cần quan tâm đến khả năng giải thích, liên hệ và vận dụng.
Yêu cầu trên đồng thời đặt ra vấn đề xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu lý luận. Một giảng viên lý luận chính trị trong bối cảnh mới cần có năng lực nắm vững lý luận, năng lực nghiên cứu và năng lực chuyển hóa lý luận thành ngôn ngữ phù hợp với người học. Nếu thiếu nền tảng lý luận, phân tích dễ dừng ở mô tả hiện tượng; nếu thiếu hiểu biết thực tiễn, bài giảng dễ xa rời cuộc sống; nếu thiếu phương pháp truyền đạt phù hợp, kết quả nghiên cứu khó chuyển hóa thành nhận thức của người học.
Từ yêu cầu của Nghị quyết số 25-NQ/TW và sự cụ thể hóa của Kế hoạch số 132-KH/TU, vai trò của Trường Chính trị vì thế không chỉ là “dạy đúng”, mà còn phải “nghiên cứu đúng”, “giải thích đúng” và “gắn đúng với thực tiễn”. Đây là cơ sở để nhà trường thực hiện tốt hơn chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và tham gia vào quá trình đổi mới công tác tư tưởng trên địa bàn tỉnh.
3. Từ nhận thức đến hành động: đưa Nghị quyết vào thực tiễn
Đưa một nghị quyết vào cuộc sống là quá trình liên tục từ nghiên cứu, nhận thức đến tổ chức thực hiện và tổng kết. Với Nghị quyết số 25-NQ/TW, yêu cầu này đặt ra khá rõ đối với Trường Chính trị: tinh thần đổi mới của Nghị quyết phải được thể hiện ngay trong hoạt động chuyên môn hằng ngày.
Trước hết là đổi mới phương pháp giảng dạy. Nếu yêu cầu mới là chuyển từ quán triệt một chiều sang trao đổi, thảo luận, đối thoại, giải thích thì bài giảng cũng cần được thiết kế theo hướng đó. Một nội dung khó không nhất thiết được giải quyết bằng cách tăng thời lượng thuyết trình; có thể bắt đầu từ một vấn đề thực tiễn, một câu hỏi hoặc một tình huống để người học phân tích trước khi giảng viên khái quát. Khi người học tham gia vào quá trình lý giải, việc tiếp nhận lý luận có điều kiện gắn chặt hơn với công việc thực tế.
Đổi mới phương pháp phải đi cùng đổi mới cách chuẩn bị bài. Giảng viên cần xác định nội dung nào người học nhất thiết phải hiểu, vấn đề nào cần trao đổi, điểm nào dễ bị hiểu sai và nội dung nào cần liên hệ với thực tiễn địa phương. Cùng một nghị quyết nhưng với các đối tượng người học khác nhau, cách tiếp cận có thể khác nhau. Đây cũng là yêu cầu “phù hợp với từng đối tượng” mà Kế hoạch số 132-KH/TU đặt ra đối với giáo dục lý luận chính trị ở Trường Chính trị tỉnh.
Cùng với phương pháp, cần thay đổi cách nhìn về kết quả học tập nghị quyết. Một hội nghị, một lớp học hay một bài thi, bài kiểm tra không nên được xem là điểm kết thúc. Điều cần quan tâm là người học có hiểu vấn đề, có thể giải thích cho đồng chí, đồng nghiệp và quần chúng, có biết liên hệ với chức trách, nhiệm vụ và có khả năng chuyển hóa nhận thức thành hành động hay không. Kế hoạch số 132-KH/TU đã đặt yêu cầu kiểm tra, đánh giá thực chất kết quả học tập lý luận chính trị, khắc phục tình trạng “học cho xong”. Đây là cơ sở để Trường Chính trị tiếp tục đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng theo hướng thực chất hơn.
Đánh giá thực chất cũng đòi hỏi coi trọng phản hồi của người học và thực tiễn sau đào tạo. Những câu hỏi học viên đặt ra, những nội dung còn khó hiểu và những vướng mắc khi vận dụng vào công việc đều là dữ liệu để giảng viên điều chỉnh bài giảng, đồng thời giúp nhà trường cải tiến chương trình. Đánh giá vì thế không chỉ diễn ra sau khi dạy mà trở thành một bộ phận của quá trình nâng cao chất lượng đào tạo.
Đối với nghiên cứu khoa học, cần quan tâm hơn đến những vấn đề xuất phát từ thực tiễn. Thay vì chỉ đặt câu hỏi “có đề tài gì để nghiên cứu?”, cần đặt câu hỏi “vấn đề nào của thực tiễn đang cần được lý giải?”. Những vấn đề về khả năng tiếp nhận thông tin chính thống ở địa bàn đặc thù, chất lượng đối thoại trong giáo dục lý luận chính trị, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận và vận dụng chủ trương, nghị quyết ở cơ sở hay phương thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng đều có thể trở thành hướng nghiên cứu thiết thực.
Muốn nghiên cứu tốt, nhà trường cần gắn bó hơn với cơ sở. Nghiên cứu thực tế, khảo sát, tọa đàm với cán bộ cơ sở, trao đổi với các cơ quan làm công tác tư tưởng và tiếp nhận phản hồi của học viên cần trở thành những bộ phận của hoạt động chuyên môn. Ở chiều ngược lại, những vấn đề của cơ sở cần được lựa chọn, khái quát và đưa trở lại giảng đường. Một bài giảng không cần thật nhiều ví dụ; điều quan trọng là ví dụ đúng vấn đề, phản ánh đúng thực tiễn và giúp người học nhìn thấy mối quan hệ giữa nguyên lý với tình huống cụ thể.
Kế hoạch số 132-KH/TU cũng đặt vấn đề xây dựng, cập nhật, kết nối và chia sẻ cơ sở dữ liệu luận cứ khoa học dùng chung; từng bước hoàn thiện học liệu số, số hóa dữ liệu và hình thành nền tảng dùng chung phục vụ nghiên cứu, phát triển lý luận. Đây là điều kiện để kết quả nghiên cứu, dữ liệu thực tiễn và tài liệu chuyên môn được tích lũy, chia sẻ và tiếp tục sử dụng. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ. Một hệ thống học liệu lớn không tự tạo ra nghiên cứu tốt; một bài giảng sử dụng nhiều công nghệ cũng không đồng nghĩa với bài giảng có sức thuyết phục. Điều quyết định vẫn là chất lượng con người và chất lượng nội dung.
Ở cấp độ nhà trường, cần hình thành vòng liên kết thường xuyên giữa nghiên cứu, giảng dạy, thực tiễn và tổng kết. Hoạt động khoa học cần hướng vào những vấn đề tỉnh đang quan tâm; sinh hoạt chuyên môn cần tạo không gian trao đổi học thuật; nghiên cứu cần tạo ra sản phẩm cụ thể; kết quả có giá trị cần được đưa trở lại bài giảng và phục vụ tham mưu. Khi vòng liên kết đó vận hành thường xuyên, Trường Chính trị sẽ thực hiện đầy đủ hơn vai trò được Kế hoạch số 132-KH/TU xác định.
Điều cốt lõi là nhận thức rằng đưa nghị quyết vào cuộc sống không phải nhiệm vụ kết thúc sau một hội nghị quán triệt. Đó là quá trình trong đó nhận thức được hình thành từ nghiên cứu, được củng cố qua trao đổi và đối thoại, được kiểm nghiệm trong thực tiễn và tiếp tục được bổ sung bằng tổng kết. Từ góc nhìn đó, Trường Chính trị cần phát huy vai trò kết nối giữa lý luận – nghiên cứu – đào tạo – tổng kết thực tiễn.
Trong mối quan hệ ấy, đội ngũ giảng viên giữ vị trí trực tiếp. Mỗi bài giảng cần được chuẩn bị trên nền tảng nghiên cứu; mỗi hoạt động nghiên cứu cần hướng tới vấn đề thực tiễn; mỗi hoạt động nghiên cứu thực tế cần tạo thêm chất liệu cho bài giảng; mỗi cuộc trao đổi với học viên cần được xem là nguồn phản hồi để hoàn thiện hoạt động chuyên môn. Khi các mối quan hệ này được duy trì thường xuyên, học tập nghị quyết không dừng ở tiếp nhận thông tin, nghiên cứu không tách khỏi thực tiễn và giảng dạy không tách khỏi yêu cầu của cuộc sống.
Đó cũng là cách để Trường Chính trị tỉnh Lai Châu thực hiện trách nhiệm được giao trong Kế hoạch số 132-KH/TU, góp phần cụ thể hóa những yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng mà Nghị quyết số 25-NQ/TW đặt ra. Từ giảng đường đến cơ sở, từ nghiên cứu đến thực tiễn, điều quan trọng là tạo được sự kết nối giữa nhận thức và hành động; qua đó nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ trong bối cảnh mới.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
2. Ban Bí thư (2026), Kế hoạch số 08-KH/TW ngày 22/8/2026 thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
3. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lai Châu (2026), Kế hoạch số 132-KH/TU ngày 21/9/2026 thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới.
Tác giả: ThS. Lương Văn Dũng - Giảng viên Khoa Nhà nước pháp luật; ThS. Trần Thị Kim Oanh - Phó trưởng phòng Tổ chức, hành chính. thông tin. tư lieuej