Đến năm 2030, Lai Châu đặt mục tiêu đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều xuống dưới 10%, nâng thu nhập bình quân của người dân nông thôn lên 47,5 triệu đồng và cơ bản không còn xã, bản đặc biệt khó khăn. Đằng sau những con số ấy là sự chuyển hướng rõ nét: lấy sinh kế, năng lực tự vươn lên và chất lượng sống của người dân làm thước đo.
Thu nhập bình quân của người dân nông thôn Lai Châu đã tăng từ 17,2 triệu đồng năm 2020 lên 28,9 triệu đồng năm 2025. Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3,9% mỗi năm; 1.003 hộ dân được di chuyển khỏi vùng thiên tai, nơi có nguy cơ sạt lở nguy hiểm. Những kết quả này cho thấy nguồn lực đầu tư cho nông thôn, giảm nghèo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã từng bước đi vào đời sống.
Tuy nhiên, khoảng cách cần vượt qua vẫn còn lớn. Đến hết năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn 17,24%; 32 trong tổng số 36 xã và 564 trong số 956 bản vẫn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Ở một số nơi, người dân còn thiếu điện, nước sinh hoạt; hạ tầng chưa đồng bộ; sinh kế dễ bị tổn thương trước thiên tai và biến động thị trường.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 5/5/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu đặt ra một cách tiếp cận toàn diện hơn cho giai đoạn 2026-2030: xây dựng nông thôn mới không chỉ là hoàn thành các tiêu chí về hạ tầng; giảm nghèo không chỉ là hỗ trợ trước mắt; phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số không thể tách rời việc tạo việc làm, nâng cao thu nhập và mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ cơ bản.
Điểm đáng chú ý là trọng tâm chính sách được chuyển mạnh sang phát triển sinh kế bền vững. Lai Châu sẽ tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa, xanh và có liên kết thị trường; tập trung phát triển các vùng chè, lúa, cây ăn quả, quế, mắc ca, dược liệu và nuôi cá lồng. Sâm Lai Châu tiếp tục được xác định là sản phẩm có lợi thế, gắn phát triển thương hiệu với kiểm soát nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng.
Thay vì để nông dân đơn độc trong sản xuất và tiêu thụ, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 460 hợp tác xã, trong đó trên 250 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp. Sản phẩm OCOP, nghề truyền thống và du lịch cộng đồng sẽ được kết nối với thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và mở rộng thị trường. Mục tiêu 80% số hộ nông dân người dân tộc thiểu số làm kinh tế nông, lâm nghiệp hàng hóa cho thấy giảm nghèo đang được đặt trong một chuỗi giá trị rộng hơn, từ sản xuất đến chế biến và tiêu thụ.
Hạ tầng vẫn là điều kiện thiết yếu để sinh kế phát triển. Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu có trên 95% đường xã được cứng hóa, 80% dân số nông thôn sử dụng nước sạch, 99% hộ dân được dùng điện lưới quốc gia và 90% chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được thu gom, xử lý. Nhưng yêu cầu không dừng ở xây dựng công trình, mà còn bao gồm quản lý, vận hành và bảo trì hiệu quả sau đầu tư.
Một hướng đi khác cũng được nhấn mạnh là đầu tư cho con người. Bình quân mỗi năm, khoảng 4.700 lao động sẽ được đào tạo; đến năm 2030, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70,5%. Phong trào “Bình dân học vụ số”, các nền tảng học trực tuyến, dịch vụ công và thương mại số được đưa về cơ sở, giúp người dân từng bước thu hẹp khoảng cách về kiến thức, kỹ năng và cơ hội phát triển.
Để những mục tiêu này không dừng lại trên giấy, kết quả thực hiện sẽ được đánh giá bằng các đầu ra cụ thể như thu nhập, mức giảm nghèo và tiêu chí nông thôn mới. Cấp xã và cộng đồng dân cư được trao quyền chủ động hơn trong lựa chọn mô hình phù hợp; người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà thực sự tham gia quyết định, thực hiện và giám sát.
Con đường đưa tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% và nâng thu nhập nông thôn lên 47,5 triệu đồng không thể chỉ dựa vào vốn đầu tư. Điều quyết định là mỗi công trình phải mở thêm cơ hội phát triển, mỗi mô hình phải tạo được thu nhập và mỗi chính sách phải khơi dậy được ý chí tự lực của người dân. Khi đó, nông thôn mới ở Lai Châu mới thực sự được đo bằng sự đổi thay trong từng bản làng và từng gia đình.
Tác giả: LCC