........ ....Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 hằng năm là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục khẳng định sâu sắc vai trò, vị thế, những đóng góp to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong dòng chảy tư tưởng cách mạng của nhân loại, những luận điểm của V.I. Lênin về giải phóng phụ nữ và công tác cán bộ nữ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt sâu sắc. Đó không chỉ là sự kế thừa và phát triển sáng tạo học thuyết Mác về giải phóng con người, mà còn là kim chỉ nam hành động cho các đảng cộng sản trong quá trình xây dựng xã hội mới.
...... ....Đối với Việt Nam, Đảng ta luôn nhất quán quan điểm: giải phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, việc thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 theo Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ tiếp tục thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước ta trong phát huy vai trò phụ nữ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
...... .....Tại tỉnh Lai Châu - một tỉnh miền núi, biên giới, có trên 20 dân tộc cùng sinh sống - việc quán triệt và vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin về công tác cán bộ nữ vào thực tiễn triển khai các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần phát huy nguồn lực phụ nữ, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh từ cơ sở.
.. ........1. Tư tưởng của V.I. Lênin về công tác cán bộ nữ - Giá trị lý luận và thời sự
..... .....Trong di sản lý luận đồ sộ của mình, V.I. Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ và sự tham gia của phụ nữ vào đời sống chính trị - xã hội. Ông khẳng định: trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu không đào tạo được trong hàng ngũ của mình những người lãnh đạo chính trị có đủ năng lực tổ chức và dẫn dắt phong trào. Quan điểm này bao hàm cả yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị.
.... ........Theo V.I. Lênin, phụ nữ là “một nửa nhân loại”, là nguồn lực quan trọng của sự phát triển xã hội. Công cuộc giải phóng phụ nữ là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Và để phát huy vị thế, vai trò của nữ giới từ trong gia đình cũng như ngoài xã hội điều cần thiết phải giải phóng phụ nữ, tăng cường sự tham gia của họ vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Việc thu hút phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội không chỉ là vấn đề công bằng mà còn là yêu cầu khách quan của tiến bộ xã hội.
.... ......Ở vào những thời điểm bước ngoặt của cách mạng Nga, V.I. Lênin luôn chú ý đến công tác tổ chức bộ máy và con người, giai cấp vô sản muốn chiến thắng giai cấp tư sản thì phải đào tạo lấy “những nhà chính trị giai cấp thực sự của mình”. Theo V.I. Lênin, giành quyền bình đẳng cho phụ nữ không chỉ ghi nhận trong văn bản mà còn phải thực hiện. Biện pháp hữu hiệu là mau chóng xoá bỏ khoảng cách giữa “bình đẳng về mặt pháp luật” và “bình đẳng trong thực tế đời sống” cũng đã được V.I. Lênin chỉ ra và quyết tâm thực hiện khi ông còn sống và giữ cương vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Xô viết. Biện pháp đó là: “phải làm sao cho nữ công nhân ngày càng tham gia nhiều hơn nữa vào việc quản lý các xí nghiệp công cộng, vào việc quản lý nhà nước” (1). Với việc thực hiện biện pháp này, V.I. Lênin hoàn toàn tin tưởng rằng: “…Phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp được nam giới” (2).
....... ....Những luận điểm đó thể hiện ba nội dung cốt lõi: một là, giải phóng phụ nữ là một bộ phận hữu cơ của cách mạng xã hội chủ nghĩa; hai là, phải bảo đảm quyền tham gia chính trị thực chất của phụ nữ; ba là, xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nữ là nhiệm vụ chiến lược của Đảng cầm quyền. Toàn bộ tư tưởng ấy được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, mang giá trị khoa học và tính nhân văn sâu sắc, vẫn giữ nguyên ý nghĩa thời sự trong thế kỷ XXI - thế kỷ của phát triển bền vững và bao trùm.
..... .......2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác cán bộ nữ trong thời kỳ đổi mới
..... .......Kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, tư tưởng V.I.Lênin về bình đẳng giới trong chính trị, về công tác cán bộ nữ, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác phụ nữ nói chung, công tác bình đẳng giới nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của toàn bộ hệ thống chính trị. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã cụ thể hoá quan điểm bình đẳng giới bằng những nghị quyết và chỉ thị về công tác phụ nữ. Cụ thể là:, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đề ra mục tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng, cơ quan dân cử và bộ máy hành chính nhà nước.
....... ...Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Thu hẹp khoảng cách giới trong kinh tế, lao động, giáo dục, y tế. Phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới. Bảo đảm phụ nữ và trẻ em gái được tiếp cận công bằng với các nguồn lực phát triển.
........ ..Đây chính là sự cụ thể hóa sinh động tư tưởng của V.I. Lênin về giải phóng phụ nữ trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
...... ....3. Thực trạng thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới ở tỉnh Lai Châu năm 2025
....... .....Theo Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu về kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2025, công tác bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tương đối toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Những kết quả đó phản ánh rõ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền các cấp; sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ban, ngành, đoàn thể; đồng thời thể hiện sự chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động trong toàn xã hội đối với mục tiêu bình đẳng giới.
..... ......Thứ nhất, trong lĩnh vực chính trị
....... .....Lĩnh vực chính trị tiếp tục ghi nhận những bước tiến rõ rệt trong phát huy vai trò của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý. Tính đến ngày 01/12/2025, toàn tỉnh có 23/35 sở, ban, ngành cấp tỉnh có lãnh đạo chủ chốt là nữ, đạt tỷ lệ 65,7%, vượt chỉ tiêu 60% theo kế hoạch đề ra (3). Đây là kết quả có ý nghĩa quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị cao của tỉnh trong công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ nữ; đồng thời khẳng định năng lực, uy tín và bản lĩnh của đội ngũ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị cấp tỉnh.
....... ...Ở cấp xã, phường có 18/38 đơn vị có lãnh đạo chủ chốt là nữ, đạt 47,36% (chưa đạt mục tiêu) (4). Con số này cho thấy mặc dù đã có chuyển biến tích cực, song khoảng cách giữa yêu cầu và thực tiễn vẫn còn. Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục quan tâm hơn nữa đến công tác tạo nguồn, bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ nữ ở cấp xã, phường - nơi trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và là cấp gần dân nhất.
....... ....Có thể khẳng định, trong bối cảnh một tỉnh miền núi, địa hình chia cắt, dân cư phân tán, tỷ lệ phụ nữ dân tộc thiểu số cao như Lai Châu, việc đạt và vượt chỉ tiêu về nữ lãnh đạo cấp tỉnh là kết quả rất đáng ghi nhận; đồng thời cũng là tiền đề quan trọng để từng bước nâng cao chất lượng và tỷ lệ nữ lãnh đạo ở cấp xã trong giai đoạn tới.
.......... Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế, lao động
........ ..Trong lĩnh vực này, các chỉ tiêu về giới có sự cải thiện, song vẫn còn những nội dung cần tiếp tục nỗ lực. Năm 2025, tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương đạt 26,18% (5). Đây là chỉ số phản ánh mức độ tham gia của phụ nữ vào khu vực lao động chính thức. Mặc dù đã có chuyển biến, song tỷ lệ này còn thấp so với mục tiêu đề ra, cho thấy lao động nữ, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn chủ yếu làm việc trong khu vực phi chính thức, thiếu tính ổn định và bảo đảm an sinh.
... .....Tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp còn 27,52% (đạt mục tiêu dưới 30%) (6). Kết quả này phản ánh xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động tích cực, từng bước đưa phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch còn chậm, phụ nữ dân tộc thiểu số vẫn gặp nhiều rào cản về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng tiếp cận thị trường lao động.
....... ...Tỷ lệ nữ giám đốc, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã đạt 23% (7). Con số này cho thấy phụ nữ đã và đang khẳng định vai trò trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, song vẫn còn dư địa lớn để phát huy. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tiếp tục đẩy mạnh chính sách hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, tiếp cận vốn, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tập thể; đặc biệt chú trọng phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số – nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong quá trình phát triển.
........ ..Thứ ba, trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới
....... ..Công tác phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới đạt nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ người bị bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện và tiếp cận ít nhất một dịch vụ hỗ trợ cơ bản đạt 95%, vượt xa chỉ tiêu 80% theo kế hoạch (8). Điều này cho thấy hệ thống trợ giúp xã hội, tư vấn, hỗ trợ pháp lý và chăm sóc sức khỏe đã được củng cố, hoạt động ngày càng hiệu quả.
....... ...Đặc biệt, 100% cơ sở trợ giúp xã hội công lập trên địa bàn tỉnh triển khai các hoạt động trợ giúp, phòng ngừa và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới (9). Đây là minh chứng rõ nét cho sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng, góp phần từng bước xây dựng môi trường sống an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái.
......... ..Tuy nhiên, trong bối cảnh đặc thù văn hóa, phong tục tập quán của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác phòng, chống bạo lực gia đình vẫn cần được duy trì thường xuyên, gắn với công tác tuyên truyền, giáo dục thay đổi hành vi, nâng cao nhận thức cho cả nam và nữ.
....... .....Thứ tư, trong lĩnh vực y tế
.. .........Trong lĩnh vực y tế, tỉnh Lai Châu đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tỷ số giới tính khi sinh năm 2025 là 108 bé trai/100 bé gái (đạt mục tiêu dưới 109) (10). Đây là chỉ báo quan trọng phản ánh hiệu quả của các giải pháp tuyên truyền, vận động xóa bỏ tâm lý trọng nam hơn nữ, từng bước điều chỉnh tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
...... .....Tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản giảm còn 39,92/100.000 trẻ sinh sống (đạt chỉ tiêu) (11). Kết quả này thể hiện sự cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc bà mẹ và trẻ em, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Trong điều kiện địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, việc đạt được chỉ tiêu này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt nhân văn và phát triển bền vững.
......... ...Giáo dục và đào tạo tiếp tục là điểm sáng trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Năm 2025, 100% nội dung về giới và bình đẳng giới được đưa vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân (12). Đây là nền tảng căn bản để hình thành nhận thức đúng đắn về giới cho thế hệ trẻ, góp phần xây dựng xã hội tiến bộ, văn minh.
....... .....Tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số hoàn thành giáo dục tiểu học đạt 100% (vượt); oàn thành cấp trung học cơ sở đạt 99,90% (vượt) (13). Kết quả này khẳng định sự nỗ lực vượt bậc của tỉnh trong bảo đảm quyền học tập bình đẳng cho trẻ em gái và trẻ em trai, thu hẹp khoảng cách giới trong tiếp cận giáo dục.
Tỷ lệ nữ học viên, học sinh, sinh viên được tuyển mới thuộc hệ thống giáo dục nghề nghiệp trên 38,81% (đạt) (14). Điều đó cho thấy xu hướng tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề cho phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia sâu hơn vào thị trường lao động chính thức.
........ ....Tổng thể các kết quả trên cho thấy, việc triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới tại tỉnh Lai Châu năm 2025 đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện, có những chỉ tiêu vượt kế hoạch. Dù vẫn còn những hạn chế, song những chuyển biến tích cực đó đã góp phần nâng cao vị thế, vai trò của phụ nữ; tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nguồn nhân lực nữ; đồng thời khẳng định sự đúng đắn của đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về công tác bình đẳng giới trong giai đoạn mới.
..... .....Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới tỉnh Lai Châu còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc như: vẫn còn 6/22 chỉ tiêu chưa đạt so với kế hoạch đề ra; tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo chủ chốt các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp còn thấp và chưa đạt chỉ tiêu chiến lược đề ra; tỷ lệ phụ nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp còn cao, đặc biệt tại vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện tiếp cận thông tin, đào tạo nghề còn hạn chế; tỷ lệ nữ thạc sĩ, tiến sĩ chưa đạt mục tiêu; lao động nữ làm công hưởng lương còn hạn chế; nhiều lao động nữ thiếu kỹ năng chuyên môn, gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường lao động chính thức.
.... ........Những hạn chế đó bắt nguồn từ: Điều kiện kinh tế – xã hội của tỉnh còn khó khăn; nhận thức về bình đẳng giới ở một bộ phận cán bộ và người dân chưa đầy đủ; rào cản văn hóa, tập quán truyền thống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
....... .....Vì vậy, tiếp tục vận dụng tư tưởng của V.I. Lênin đòi hỏi Lai Châu cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp:
..... .....Một là, nâng cao nhận thức chính trị về công tác cán bộ nữ trong toàn hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải xác định phát triển cán bộ nữ là nhiệm vụ thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu; khắc phục tư tưởng coi công tác phụ nữ là việc riêng của tổ chức hội. Đẩy mạnh tuyên truyền, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, từng bước xóa bỏ định kiến giới, tạo môi trường xã hội thuận lợi để phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý.
....... .....Hai là, tăng cường quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, nhất là cán bộ nữ trẻ, cán bộ nữ người dân tộc thiểu số. Chủ động tạo nguồn từ cơ sở; bảo đảm cơ cấu nữ trong quy hoạch cấp ủy, chính quyền. Quan tâm cử cán bộ nữ đi đào tạo lý luận chính trị, quản lý nhà nước; tạo điều kiện rèn luyện qua thực tiễn. Có chính sách phù hợp đối với cán bộ nữ vùng đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao tỷ lệ và chất lượng nữ lãnh đạo ở cấp xã – khâu còn hạn chế hiện nay.
........ ...Ba là, đẩy mạnh lồng ghép giới trong xây dựng và thực thi chính sách phát triển kinh tế – xã hội. Trong triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần xác định rõ chỉ tiêu, nguồn lực cho phụ nữ. Gắn đào tạo nghề với nhu cầu thị trường; hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, tiếp cận vốn, chuyển đổi số; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ – trẻ em; giảm tảo hôn, hôn nhân cận huyết. Lồng ghép giới phải thực chất, tránh hình thức.
....... .....Bốn là, phát huy vai trò của Trường Chính trị tỉnh Lai Châu trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và kỹ năng lãnh đạo cho cán bộ nữ. Nhà trường cần tăng cường lồng ghép nội dung bình đẳng giới, kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong chương trình đào tạo; chú trọng bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, tư duy chiến lược cho cán bộ nữ. Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết thực tiễn về công tác cán bộ nữ ở địa phương, góp phần tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh các giải pháp phù hợp.
...... .....Tư tưởng của V.I. Lênin về công tác cán bộ nữ là di sản lý luận quý báu, mang giá trị bền vững trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới tại tỉnh Lai Châu năm 2025 đã cho thấy những chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao vị thế phụ nữ và phát huy nguồn lực to lớn của hơn một nửa dân số. Hướng tới kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3/2026, mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu càng thêm tự hào về truyền thống phụ nữ Việt Nam “Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang”, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm chính trị trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
....... .....Phát huy tư tưởng của V.I. Lênin, kiên định quan điểm của Đảng, quyết tâm chính trị cao, giải pháp đồng bộ và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị sẽ là bảo đảm vững chắc để tỉnh Lai Châu thực hiện thắng lợi các mục tiêu bình đẳng giới, góp phần xây dựng quê hương ngày càng phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
..... . .....Tài liệu trích dẫn:
..... .....(1), (2) V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2006, tập 40, tr 183.
...... .....(3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14) Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu: Báo cáo số 922/BC-UBND ngày 24/12/2025 về kết quả thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng gới tỉnh Lai Châu năm 2025.
..... .......Tài liệu tham khảo:
.... ......1. Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu (2021), Kế hoạch số 141/KH-UBND ngày 25/5/2021 của UBND tỉnh thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
... ........2. Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu (2025), Kế hoạch số 1712/KH-UBND ngày 22/4/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thực hiện công tác bình đẳng giới và Vì sự tiến bộ của phụ nữ trên địa bàn tỉnh Lai Châu năm 2025.